Hoán đổi ngày nghỉ, ngày đi làm bù các dịp nghỉ lễ, Tết năm 2015. Báo cáo nhanh tình hình tiền lương năm 2014, kế hoạch thưởng Tết năm 2015 Hướng dẫn việc ký quỹ và quản lý tiền ký quỹ của Doanh nghiệp cho thuê lại lao động Hướng dẫn thực hiện mức tiền lương tối thiểu vùng theo Nghị định số 103/2014/NĐ-CP ngày 11/11/2014 của Chính Phủ. Những điểm mới trong Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) Lương tối thiểu vùng năm 2015 và những điểm mới cần lưu ý 3 tiêu chí hộ chính sách xã hội được hỗ trợ tiền điện Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quy định Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” Hướng dẫn thực hiện quy định tại Thông tư số 23/2014/TT-BLĐTBXH ngày 29/8/2014 Bổ sung 6 tiêu chí điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo UBND tỉnh ban hành kế hoạch triển khai thực hiện các hoạt động Chương trình Quốc gia an toàn lao động, vệ sinh lao động tỉnh năm 2015 Hộ mới thoát nghèo có thể được vay vốn ưu đãi Chi đoàn Văn phòng sở tổ chức thăm, tặng quà cho người dân, trẻ em đồng bào nghèo, khó khăn trên địa bàn xã Thanh Phú (TX Bình Long) Thư chúc Tết Trung thu của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gửi các cháu thiếu niên nhi đồng UBND tỉnh tổ chức phát động đợt thi đua đặc biệt chào mừng Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII năm 2015 UBND tỉnh ban hành kế hoạch đẩy mạnh xúc tiến vận động viện trợ phi Chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện Chương trình tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng UBND tỉnh ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình hành động Quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Hướng dẫn quy đinh chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động là người giúp việc gia đình Những điểm mới trong Dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) Quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam Lễ ký kết “Quy chế phối hợp thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước” Giao chỉ tiêu bệnh nhân được điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2014 và 2015 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế Hướng dẫn thực hiện Quyết định 75/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ, chính sách và công tác bảo đảm đối với tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Huấn luyện về công tác an toàn – vệ sinh lao động cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Phước năm 2014. Quy định Tiêu chuẩn xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em Hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Lễ khai mạc hè và phát động tháng hành động vì trẻ em năm 2014 Khám đa khoa nhi sàng lọc và cấp phát thuốc miễn phí cho trẻ em tại huyện Bù Đăng Hội nghị triển khai công tác cấp nhật điều tra định kỳ cung, cầu lao động 2014 Cấp phát gạo cho người dân di cư tự do từ Campuchia về Việt Nam gặp khó khăn trong đời sống trên địa bàn tỉnh Khám sàng lọc và cấp phát thuốc miễn phí cho người dân trên địa bàn tỉnh Bình Phước Hội nghị triển khai và tập huấn tổng rà soát thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Người nhiễm HIV, người sau cai nghiện ma túy được vay vốn ưu đãi Kế hoạch triển khai thực hiện chương trình tổng rà soát đối tượng chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trong 2 năm (2014 – 2015). Kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn năm 2014 UBND tỉnh chỉ đạo việc tăng cường công tác phòng ngừa, giải quyết tranh chấp lao động, đình công Tập trung chỉ đạo các hoạt động về bảo vệ, chăm sóc trẻ em năm 2014 Quy chế thăm hỏi, cứu trợ đối tượng gặp khó khăn do hậu quả của thiên tai, thảm họa. Quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình Hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp thâm niên và phụ cấp ưu đãi nghề đối với người làm công tác dự trữ quốc gia Chỉ thị đẩy mạnh phòng, chống tiêu cực trong quản lý công chức, viên chức Giao lưu, đối thoại với cán bộ công chức, viên chức là đoàn viên thanh niên ngành Lao động – Thương binh và Xã hội Hội nghị tuyên truyền chính sách bảo hiểm thất nghiệp năm 2014 Thứ trưởng Nguyễn Trọng Đàm chủ trì Họp đề xuất hướng sửa đổi cơ chế, chính sách giảm nghèo Công khai chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức Đẩy mạnh công tác vận động, tuyên truyền người lao động hết hạn hợp đồng làm việc tại Hàn Quốc về nước đúng thời hạn. Thông tư liên tịch hướng dẫn lồng ghép các nguồn vốn thực hiện Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững trên địa bàn các huyện nghèo. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành chương trình công tác lĩnh vực lao động, người có công và xã hội năm 2014 Khởi công Nhà tưởng niệm Bác Hồ tại Khu di tích K9 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phê duyệt Kế hoạch triển khai Chương trình hành động thực hiện Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 – 2020. Quốc hội xem xét, thảo luận dự án Luật Việc làm

Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn năm 2013

UBND tỉnh chỉ đạo triển khai đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn

Lễ khai mạc hè - phát động thàng hành động vì trẻ em năm 2013

Hộ cận nghèo được ưu đãi lãi suất cho vay

UBND tỉnh ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi tỉnh năm 2013

Thứ trưởng Phạm Minh Huân chủ trì Hội thảo “Triển khai hướng dẫn quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 về lao động giúp việc gia đình”

UBND tỉnh ban hành kế hoạch Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng trên địa tỉnh năm 2013

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ đạo việc đón Tết nguyên đán năm 2013 cho các đối tượng người có công và các đối tượng bảo trợ xã hội.

Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch tăng cường công tác đưa người lao động và chuyên gia trên địa bàn tỉnh Bình Phước đi làm việc ở nước ngoài theo Chỉ thị số 16-CT/TW ngày 08/5/2012 của Ban Bí thư.

Công bố Kế hoạch triển khai Nghị quyết 80/NQ-CP và Quyết định phê duyệt CTMTQG Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015

Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch số 71 /KH-UBND về việc trợ giúp người tật năm 2013

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ đạo thực hiện chính sách đối với người lao động nhân dịp Tết nguyên đán

Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Phi chủ trì họp báo Hội nghị khu vực về Đào tạo nghề tại Việt Nam

Kế hoạch giám sát việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo năm 2013.

Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo năm 2013.

Lễ viếng, tiễn đưa liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh ở Campuchia về địa phương và kỷ niệm 68 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam

Lễ truy điệu và an táng hài cốt liệt sỹ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh trong các thời kỳ chiến tranh ở Campuchia về nước

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Phê duyệt Phương án điều tra Lao động, tiền lương và nhu cầu sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp năm 2013.

Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch hoạt động kỷ niệm 66 năm ngày Thương binh liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2013).

Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo triển khai hoạt động của Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ năm 2012

Cục Bảo vệ - Chăm sóc trẻ em (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) hướng dẫn triển khai Tháng hành động vì trẻ em năm 2013

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn, chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch tiền lương năm 2012

Đại hội công đoàn thanh viên văn phòng Sở Lao động thương binh và Xã hội Bình Phước nhiệm kỳ VI (2012-2014)

Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em năm 2013

Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bình Phước

Tập huấn triển khai thực hiện chính sách theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ

Lãnh đạo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội gặp gỡ, đối thoại với đoàn viên thanh niên Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội.

Hội nghị tổng kết công tác Lao động – Thương binh Xã hội năm 2011 và triển khai nhiệm vụ năm 2012.

Đảng bộ Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức Hội nghị tổng kết công tác xây dựng Đảng năm 2011

Hội thao chào mừng kỷ niệm 66 năm ngày thành lập Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội (28/8/1945 – 28/8/2011).

Huấn luyện An toàn lao động cho người sử dụng lao động, người quản lý – người làm công tác An toàn Vệ sinh Lao động ở các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh

Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Bùi Hồng Lĩnh đến thăm và làm việc tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Phước

Hội nghị triển khai công tác cập nhật thông tin định kỳ về cung lao động năm 2011 trên địa bàn tỉnh Bình Phước

Hội nghị Sơ kết công tác lao động, người có công và xã hội 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2011

Thông báo về việc tuyển dụng viên chức năm 2011

Tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 07 – CT/TW, ngày 14/12/2006 của Ban Bí thư Trung ương

Hội nghị Cán bộ công chức Văn phòng Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Phước năm 2011

Bình Phước: 100% đối tượng chính sách người có công, người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hôi được hỗ trợ quà vui đón Tết cổ truyền dân tộc Tân Mão 2011.

Lễ truy điệu và an táng hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh trong các thời kỳ chiến tranh ở Campuchia về nước

Hội nghị tổng kết công tác Lao động, Người có công và Xã hội năm 2010, triển khai nhiệm vụ năm 2011 và đón nhận Huân chương Lao động Hạng Nhì của Chủ tịch nước trao tặng.

Tổ chức tổng điều tra hộ nghèo phục vụ cho việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội giai đoạn 211-2015

Hội nghị điển hình tiên tiến Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội lần III (2005-2009).

Sở LĐTB và XH Google
Trang chủ
 
 
  English
TIN NỔI BẬT
 Bản in     Gởi bài viết  
Tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình hành động Quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ đến năm 2010.

Ngày 27/10/2010, Ban vì sự tiến bộ của Phụ nữ tỉnh Bình Phước tổ chức Hội nghị Tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình hành động Quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ đến năm 2010. Đồng chí Nguyễn Thị Thu Hà – Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Phó Trưởng ban Thường trực Ban vì sự tiến bộ của Phụ nữ tỉnh được UBND tỉnh ủy nhiệm chủ trì Hội nghị.
 

Đến dự Hội nghị có đồng chí Bùi Thế Thành – Nguyên UVTV Tỉnh ủy, nguyên Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy; đại diện lãnh đạo các Ban xây dựng Đảng, các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh; đại diện lãnh đạo UBND và Ban vì sự tiến bộ của Phụ nữ các huyện, thị và các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác vì sự tiến bộ của Phụ nữ.

Trong 10 năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo, phối hợp của các ngành, các cấp và sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Uỷ ban quốc gia VSTBPNVN và Vụ Bình đẳng giới, Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ của tỉnh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận; các mục tiêu, chỉ tiêu của kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của Phụ nữ tỉnh đến năm 2010 đều đạt và vượt, cụ thể là:

* Mục tiêu 1: thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực lao động, việc làm:

Thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực lao động việc làm là một trong những mục tiêu góp phần thúc đầy phát triển kinh tế xã hội, ổn định thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống gia đình. Vì vậy trong những năm qua, nhiều hoạt động như giải quyết việc làm, dạy nghề, giảm nghèo, giải quyết cho vay vốn ưu đãi liên quan trực tiếp đến phụ nữ được các ngành, các cấp triển khai thực hiện khá hiệu quả và đã đạt được các chỉ tiêu:

- Chỉ tiêu: Tỷ lệ lao động nữ trong tổng số lao động được giải quyết việc làm hàng năm 45%.

Hàng năm các ngành, các huyện, thị đều triển khai thực hiện nghiêm túc việc lồng ghép giới trong công tác giải quyết việc làm theo chỉ tiêu phân bổ của tỉnh nên tỷ lệ lao động nữ trong tổng số lao động được giải quyết việc làm hàng năm đạt 48 – 52%, vượt kế hoạch.

- Chỉ tiêu: Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nữ ở nông thôn 90%.

Hiện nay, ở nông thôn trong các cơ sở chế biến nông sản, các trang trại, các nông trường cao su và trong các loại hình lao động nông nghiệp giảng đơn thì tỷ lệ lao động nữ tham gia nhiều hơn nam giới. Trong đó, tỷ lệ sử dụng thời gian chung của lao động ở nông thôn duy trì ở mức 90%, nên tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nữ ở nông thôn đạt trên 90%.

- Chỉ tiêu: Tỷ lệ thấp nghiệp của phụ nữ ở thành thị <=3,5%.

Tỷ lệ thấp nghiệp chung của của lao động ở thành thị hiện nay là <=3,5%, nhưng trong các công ty, doanh nghiệp và các cơ sở dịch vụ kinh doanh khác, tỷ lệ phụ nữ tham gia lao động nhiều hơn nam giới, nên tỷ lệ thấp nghiệp của phụ nữ ở thành thị <=3,5%, đạt kế hoạch đề ra.

- Chỉ tiêu: Tỷ lệ hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ (theo chuẩn mới) <10%.

Trong thời gian qua các ngành, các cấp đã tạo mọi điều kiện về dạy nghề, giải quyết việc làm, hỗ trợ vốn vay để phụ nữ có điều kiện để phát triển sản xuất, góp phần cùng với toàn tỉnh đưa tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 11,2% cuối năm 2005 xuống còn 4,91% năm 2009.

- Chỉ tiêu: Tỷ lệ hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ được vay vốn xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm 80%.

Công tác cho vay vốn xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và các nguồn vốn khác đã được Hội LHPN tỉnh, Ngân hàng chính sách xã hội và phòng Lao động – TB&XH các huyện, thị thực hiện khá tốt, phụ nữ tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận với các nguồn vốn, nên tỷ lệ hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ được vay vốn xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm hiện nay đạt 80% theo kế hoạch, riêng năm 2008, tỷ lệ hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ được hỗ trợ vay vốn để phát triển sản xuất đạt 89,9%.

- Chỉ tiêu: Tỷ lệ phụ nữ trong tổng số người được vay vốn tín dụng 60%

Công tác giải quyết cho phụ nữ vay vốn phát triển sản xuất được các ngành các cấp, các hội đoàn thể quan tâm thực hiện nên tỉ lệ phụ nữ trong tổng số người được vay vốn tín dụng bình quân hàng năm đạt 60% theo kế hoạch.

- Chỉ tiêu: Tỷ lệ lao động nữ qua đào tạo nghề trong tổng số lao động nữ 20%.

Trong những năm qua tỷ lệ lao động nữ tham gia học nghề theo dự án đào tạo nghề cho lao động nông thôn tương đối bình đẳng, luôn đạt tỷ lệ từ 46 – 52% trên tổng số lao động được đào tạo nghề hàng năm. Hiện nay, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của tỉnh là 20%, nên tỷ lệ lao động nữ qua đào tạo nghề hiện nay là 20%, đạt kế hoạch đề ra.

* Mục tiêu 2: thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo:

Trong những năm qua số lượng nữ cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp được nâng cao về trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ đều tăng. Lao động nữ tại nông thôn được tham gia vào các chương trình đào tạo nghề và giải quyết việc làm hàng năm với tỷ lệ khá cao từ 46 - 52%,  từng bước đáp ứng với xu thế phát triển của xã hội; học sinh, sinh viên nghèo được hỗ trợ về học phí theo quy định, các cơ sở hạ tầng về giáo dục từng bước được cải thiện và đạt chất lượng , . . .  đã góp phần nâng cao tỷ lệ phụ nữ qua đào tạo:

- Chỉ tiêu: Tỷ lệ phụ nữ được xoá mù chữ trong tổng số phụ nữ dưới 40 tuổi bị mù chữ 80%.

Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì phối hợp với đoàn thành niên và Hội khuyến học các cấp tổ chức rà soát, thống kê, vận động và mở các lớp xóa mù chữ tại các cơ sở nên tỷ lệ phụ nữ được xoá mù chữ trong tổng số phụ nữ dưới 40 tuổi bị mù chữ đạt 95,7%, vượt kế hoạch đề ra.

- Chỉ tiêu: Tỷ lệ phụ nữ trong tổng số người được đào tạo đại học 30%.

Tỷ lệ phụ nữ trong tổng số người được đào tạo đại học hiện nay là 34,5%, đạt kế hoạch đề ra.

- Chỉ tiêu: Tỷ lệ đơn vị giáo dục có ít nhất 01 nữ trong Ban Lãnh đạo 80%.

Chỉ tiêu này hiện nay đạt 81,3 %, đạt so với kế hoạch đề ra. Riêng đối với thị xã Đồng Xoài và huyện Đồng Phú thì tỉ lệ này đạt 100%.

- Chỉ tiêu: Tỷ lệ lao động nữ được đào tạo 30%

Hiện nay, tỷ lệ lao động qua đào tạo chung của của tỉnh là 28%, và tỷ lệ lao động nữ qua đào tạo của tỉnh là 30%, đạt kế hoạch đề ra.

- Chỉ tiêu: Tỷ lệ nữ cán bộ công chức được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ 100%.

Hàng năm, Sở Nội vụ đều mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho phụ nữ đạt tỷ lệ từ 14 – 40,4%, nên chỉ tiêu này đạt kế hoạch đề ra.

* Mục tiêu 3: Thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ.

Công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân nói chung và công tác chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ, trẻ em trên địa bàn tỉnh nói riêng trong thời gian qua luôn được ngành y tế quan tâm và triển khai thực hiện. Nhiều hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho phụ nữ và trẻ em đã được triển khai rỗng rãi với nhiều hoạt động phong phú, thiết thực như: phát hành tờ rơi, biểu mẫu; mở các đợt truyền thông lưu động; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về sức khỏe sinh sản cho phụ nữ; tổ chức các đoàn bác sĩ tình nguyện về tận các xã, phường, thị trấn để khám bệnh cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Song song đó, nhiều trang thiết bị y tế hiện đại được đầu tư, nâng cấp; mạng lưới y tế công lập từ tỉnh đến cơ sở được thiết lập, nâng cấp, các thành phần y tế tư nhân cũng mở rộng ở mọi nơi, giúp cho người dân có nhiều lựa chọn hơn về các dịch vụ y tế đối với mình để khám chữa bệnh kịp thời, phòng tránh các bệnh nguy hiểm, nâng cao sức khỏe, nhất là phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Đặc biệt, chính sách mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và trẻ em đã góp phần phục vụ tốt công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, trong đó có phụ nữ và trẻ em gái. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu:

- Chỉ tiêu 1: Phấn đấu đến năm 2010 tuổi thọ trung bình của phụ nữ tỉnh Bình Phước >= 70 tuổi.

Công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân nói chung và phụ nữ nọi riêng trong những năm qua được ngành y tế triển khai khá hiệu quả và phụ nữ ngày càng ý thức hơn về việc tự chăm sóc sức khoẻ cho bản thân nên đã góp phần tăng tuổi thọ trung bình của phụ nữ tỉnh hiện nay là 73,5 tuổi, đạt kế hoạch đề ra.

- Chỉ tiêu 2: Giảm tỷ suất tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản 0,7%o trẻ đẻ sống.

Công tác truyền thông chăm sóc sức khoẻ sinh sản trước và sau khi sinh được triển khai thực hiện rộng rãi và chế độ dinh dưỡng cho bà mẹ trước và trong quá trình mang thai được chuẩn bị khá tốt nên đã góp phần đưa tỷ suất tử vong của bà mẹ liên quan đến thai sản giảm dần qua các năm, hiện nay giảm xuống còn 0,2%o, vượt kế hoạch đề ra.

- Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ vợ chồng áp dụng biện pháp tránh thai hiện đại 70%

Chỉ tiêu tỷ lệ vợ chồng áp dụng biện pháp tránh thai hiện đại đạt 73,5%, vượt kế hoạch đề ra. Đồng thời tỷ lệ nạo phá thai cũng giảm dần qua các năm (năm 2006 là 22,49%, năm 2010 giảm xuống còn 12,88%).

- Chỉ tiêu 4: Tăng tỷ lệ phụ nữ có thai được khám thai đủ 3 lần trở lên 95%.

Chỉ tiêu tăng tỷ lệ phụ nữ có thai được khám thai đủ 3 lần trở lên đạt 95%, đạt so với kế hoạch. Trong đó tỷ lệ phụ nữ khám thai đủ 3 lần trước khi sinh tăng dần qua các năm (năm 2006 là 89,49%, năm 2007 là 93,22%, . . .năm 2010 là 95%).

- Chỉ tiêu 5: Tỷ lệ bà mẹ sinh con tại các cơ sở y tế 95%.

Công tác truyền thông dân số, sức khoẻ sinh sản đã được ngành y tế triển khai rộng rãi đến tận cơ sở, đã làm thay đổi nhận thức của phụ nữ là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, nên tỷ lệ bà mẹ sinh con tại các cơ sở y tế đạt 98,11%, vượt kế hoạch đề ra và chỉ tiêu này cũng tăng dâng qua các năm (năm 2006 là 93,56% đến năm 2010 là 98,11%.

- Chỉ tiêu 6: Tăng tỷ lệ phụ nữ tiếp cận với các dịch vụ y tế 95%.

Theo báo cáo của Sở Y tế , tỷ lệ phụ nữ được chăm sóc sức khoẻ sinh sản và khám phụ khoa tăng từ 49,22% năm 2006 lên 63,34% năm 2008. Tuy nhiên, số liệu cụ thể về số phụ nữ tiếp cận với các dịch vụ y tế là chưa cập nhật đầy đủ, nên rất khó đánh giá. Nếu đánh giá được cần phải có sự điều tra, khảo sát, hơn nữa chỉ tiêu này chưa nằm trong hệ thống chỉ tiêu báo cáo của ngành y tế.

- Chỉ tiêu 7: Tỷ lệ trạm y tế có y sĩ sản nhi hoặc nữ hộ sinh trung học 100%.

- Chỉ tiêu tỷ lệ trạm y tế có y sĩ sản nhi hoặc nữ hộ sinh trung học đã đạt 100%, đạt chỉ tiêu đề ra.

* Mục tiêu 4: Nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của phụ nữ trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội để tăng lỷ lệ nữ tham gia các cấp lãnh đạo:

Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trên các mặt kinh tế, chính trị văn hoá và xã hội và tăng tỷ lệ nữ tham gia các cấp lãnh đạo là một trong những mục tiêu được tỉnh quan tâm vào tạo điều kiện. Thực hiện chủ trương, Chính sách của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là Luật Bình đẳng giới và Nghị định 19/2003/NĐ-CP ngày 07/3/2003 của Chính phủ quy định trách nhiệm của các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp trong việc đảm bảo cho các cấp Hội LHPN Việt Nam tham gia quản lý nhà nước, trong những năm qua Tỉnh uỷ và UBND tỉnh đã ban hành nhiều chính sách đối với cán bộ nữ,cụ thể:  Tỉnh uỷ đã ban hành Chương trình hành động thực hiện nghị quyết Đại hội VIII Đảng bộ  tỉnh về đào tạo, thu hút cán bộ và phát triển nguồn nhân lực; UBND tỉnh ban hành Quyết định số 159/2005/QĐ-UBND về quy định chính sách đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nguồn nhân lực, trong đó trợ cấp thêm cho cán bộ, công chức nữ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng 50.000 đồng/tháng, cán bộ, công chức là người dân tộc được trợ cấp thêm 150.000 đồng/tháng và cán bộ, công chức nữ nuôi con dưới 3 tuổi được trợ cấp thêm 200.000 đồng/tháng. Ngoài ra, công tác tuyển dụng, quy hoạch, bố trí cán bộ cũng được tỉnh luôn quan tâm và ưu tiên nhằm đảm bảo tỷ lệ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo và quản lý nhà nước. Đến nay, toàn tỉnh đã có 1.830 cán bộ, công chức, trong đó nữ là 474 người chiếm tỷ lệ 25,9%; đào tạo cho 2.374 cán bộ, công chức, trong đó nữ 661 người chiếm tỷ lệ 27,8%; bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho 5.918 cán bộ, công chức, trong đó nữ là 2.069 người chiếm tỷ lệ 34,8%. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu:

- Chỉ tiêu 1: Tỷ lệ nữ trong các cấp uỷ đảng các cấp là 25%.

Tỷ lệ nữ trong các cấp uỷ đảng ước năm 2010 đạt 15%, không đạt chỉ tiêu đề ra. Tuy nhiên, theo tinh thần của Chỉ thị 37/CT-TW ngày 04/8/2009 của Bộ Chính trị về Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thì tỷ lệ này đạt yêu cầu là tỷ lệ cấp uỷ viên là nữ không dưới 15%. Riêng đối với thị xã Đồng Xoài thì nhiệm kỳ 2005 – 2010 tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy Đảng đạt 34% và cấp xã, phường đạt 19%.

- Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ nữ trong đại biểu HĐND các cấp là 30%.

Tỷ lệ nữ trong đại biểu HĐND các cấp bình quân hiện nay là 21,88%, không đạt so với kế hoạch đã đề ra (trong đó tỷ lệ nữ tham gia HĐND cấp tỉnh  27,12%, cấp huyện 21,98%, cấp xã 16,54%).

Do Nghị quyết của Quốc hội Khoá XII đã kéo dài thời gian của HĐND nhiệm kỳ 2004 – 2009 đến năm 2012, vì thế kết quả bầu cử của khoá 2004 – 2009 đồng thời được kéo dài đến năm 2012, nên hiện tại chỉ tiêu này chưa đạt kế hoạch đề ra.

- Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ các cơ quan, ban, ngành ở tỉnh và huyện có ít nhất 01 nữ tham gia ban lãnh đạo là 40%.

Tỷ lệ này đạt 30%, chưa đạt so với kế hoạch đề ra. Nguyên nhân là do có lúc, có nơi vai trò và vị trí của phụ nữ chưa được các cấp uỷ, chính quyền ghi nhận, chưa quan tâm, tạo điều kiện để phát huy hết khả năng của mình, sự phối hợp của các cấp, các ngành đối với công tác cán bộ nữ chưa được đồng bộ, đã làm hạn chế rất nhiều sự phát triển của phụ nữ.

- Chỉ tiêu 4: Phấn đấu 100% các cơ quan đơn vị về giáo dục, y tế, văn hoá và các doanh nghiệp có 30% lực lượng lao động nữ có cán bộ nữ tham gia ban lãnh đạo. Chỉ tiêu này đạt 80%, trong đó thị xã Đồng Xoài, huyện Đồng Phú tỷ lệ này đạt 100%.

* Mục tiêu 5: Tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động của Ban vì sự tiến bộ phụ nữ các cấp.

Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh được thành lập ngày 25/6/2002 theo Quyết định số 28/2002/QĐ-UBND, do Sở Kế hoạch và Đầu tư làm Phó Ban thường trực. Đồng thời các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị, UBND các xã, phường, thị trấn cũng tiến hành thành lập Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ ở cấp mình và ban hành quy chế để triển khai thực hiện các hoạt động vì sự tiến bộ phụ nữ trong phạm vi ngành, địa phương quản lý. Đến năm 2010, thực hiện Quyết định 1855/QĐ-TTg ngày 11/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh được kiện toàn theo Quyết định 75/2010/QĐ-UBND ngày 13/01/2010 của UBND tỉnh, trong đó giao cho Sở Lao động – TB&XH làm Phó Ban Thường trực thay cho Sở Kế hoạch và Đầu tư; đồng thời UBND tỉnh cũng ban hành Quyết định thành lập, kiện toàn Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ 10 huyện, thị, trong đó Phòng Lao động – TB&XH làm Phó Ban Thường trực thay cho Hội LHPN để tiếp tục tổ chức triển khai các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ.

Trong 10 năm qua, mặc dù có sự chuyển giao nhiệm vụ từ Sở Kế hoạch và Đầu tư sang Sở Lao động – TB&XH và có sự thay đổi thành viên của Ban do nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác nhưng Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh vẫn tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả và chất lượng công tác vì sự tiến bộ phụ nữ. Cụ thể đã tham mưu cho Tỉnh uỷ ban hành Chương trình hành động số 14-CTr/TU ngày 15/11/2007 thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TW ngày 27/11/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tham mưu UBND tỉnh ban hành kế hoạch 63/2010/KH-UBND thực hiện Nghị quyết 57/NQ-CP và tham mưu UBND tỉnh xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh giai đoạn 2001 – 2005 và giai đoạn 2006 – 2010.

Song song đó, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh đã phối hợp với Đài PTTH xây dựng chuyên mục Vì sự tiến bộ phụ nữ phát sóng 02 tuần/lần; phối hợp với Báo Bình Phước xây dựng chuyên trang đăng 01 tuần/lần và phát hành trang thông tin nội bộ vì sự tiến bộ của phụ nữ 300 cuốn/quý để tuyên truyền các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới; phối hợp tổ chức các hội thi “Vì sự tiến bộ phụ nữ”, “Phụ nữ và phát triển” nhằm nâng cao nhận thức cho nhân dân về giới, bình đẳng giới trong gia đình và ngoài xã hội, trao quyền cho phụ nữ, cải thiện quan hệ giới trong cộng đồng, góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc.

 Đồng thời, hàng năm phối hợp với Uỷ ban quốc gia VSTBPN Việt Nam, Trường Đại học lao động xã hội, Trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức của Bộ Lao động – TB&XH để triển khai những chủ trương, chính sách và tập huấn những kỹ năng, kiến thức về công tác phụ nữ và bình đẳng giới cho cán bộ lãnh đạo và cán bộ làm công tác vì sự tiến bộ phụ nữ ở các cấp. Từ năm 2001 – 2010 đã mở 12 lớp tập huấn cho 736 lượt cán bộ cán bộ làm công tác vì sự tiến bộ phụ nữ và bình đẳng giới (trong đó cán bộ lãnh đạo từ cấp trưởng phòng trở lên ở các sở ban ngành, Lãnh đạo các huyện, thị và trưởng, phó phòng các huyện, thị là 126 lượt người; cán bộ lãnh đạo Đảng uỷ, HĐND, UBND cấp xã là 148 lượt người và cán bộ làm công tác vì sự tiến bộ phụ nữ ở các cấp là 462 lượt người). Ngoài ra, ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh đã tổ chức các đợt kiểm tra về tình hình thực hiện công tác vì sự tiến bộ phụ nữ và bình đẳng giới tại các huyện, thị. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu:

- Chỉ tiêu 1: Ban VSTBPN tỉnh có ít nhất 03 cán bộ chuyên trách, Ban VSTBPN cấp huyện có ít nhất 01 cán bộ chuyên trách, Ban VSTBPN các sở, ban, ngành có nhiều nữ có ít nhất 01 cán bộ chuyên trách. Hiện nay cán bộ làm công tác VSTBPN ở cấp tỉnh, cấp huyện và các sở, ban, ngành chủ yếu là cán bộ kiêm nhiệm, không có cán bộ chuyên trách. Do đó chỉ tiêu này chưa đạt so với kế hoạch đề ra.

- Chỉ tiêu 2: Đảm bảo 100% cán bộ Ban VSTBPN các cấp được huấn luyện về kỹ năng hoạt động vì sự tiến bộ phụ nữ, phân tích và lập kế hoạch dưới góc độ giới. Hàng năm, các lớp tập huấn kỹ năng về công tác vì sự tiến bộ phụ nữ và bình đẳng giới đều tập trung vào đối tượng này, do đó chỉ tiêu này đạt kế hoạch đề ra.

- Chỉ tiêu 3: 100% cán bộ lãnh đạo từ cấp trưởng phòng, Phó trưởng phòng trở lên thuộc cấp tỉnh, cấp huyện và cán bộ lãnh đạo Đảng uỷ, HĐND, UBND cấp xã được tập huấn nâng cao nhận thức giới, lồng ghép giới trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách. Chỉ tiêu này đạt kế hoạch đề ra, do hàng năm, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh tổ chức Hội nghị triển khai các chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về công tác bình đẳng giới và kỹ năng lồng ghép giới trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách.

Bên cạnh những kết quả đạt được đáng khích lệ, công tác vì sự tiến bộ của Phụ nữ tỉnh trong 10 năm qua vẫn còn những tồn tại hạn chế như sau:

- Vấn đề định kiến và chuẩn mực cũ xuất phát từ tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn tồn tại dai dẳng trong ý thức và quan niệm xã hội, đặc biệt đối với tỉnh Bình Phước là tỉnh có 41 dân tộc đến từ hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước đến để sinh sống và làm ăn, quá trình di cư mang theo nhiều tập tục văn hoá vùng miền khác nhau. Bên cạnh đó, đồng bào dân tộc thiểu số bản địa chiếm khoảng 20%, trình độ thấp, đời sống khó khăn, lạc hậu nên vấn đề bất bình đẳng giới tồn tại rất đa dạng và phức tạp. 

- Tỷ lệ lao động nữ được giải quyết việc làm hàng năm bình đẳng với nam giới, nhưng chủ yếu là lao động phổ thông, hoặc qua đào tạo nghề ngắn hạn nên thu nhập chưa cao, công việc không ổn định, dẫn đến đời sống khó đảm bảo.

 - Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp uỷ, HĐND các cấp, tỷ lệ phụ nữ giữ vai trò lãnh đạo và ra quyết định có tăng so với nhiệm kỳ trước, nhưng vẫn còn thấp rất nhiều so với nam giới và tiềm năng của phụ nữ. Do công tác tuyển dụng, đào tạo, quy hoạch đối với cán bộ nữ chưa được các ngành, các cấp đặc biệt quan tâm, từ đó có nơi dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn cán bộ nữ.

- Một số bộ phận phụ nữ còn an phận, tự ti, chưa mạnh dạn vượt qua những trở ngại của định kiến xã hội, chưa hoàn toàn tự tin, chủ động tham gia vào việc ra quyết định ở gia đình và cộng đồng; công việc gia đình chưa được nam giới hiểu và sẵn sàng chia sẻ để tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia các hoạt động chính trị, xã hội.

- Cán bộ làm công tác Vì sự tiến bộ phụ nữ và bình đẳng giới ở các cấp chủ yếu là kiêm nhiệm, thiếu cán bộ chuyên trách, thiếu chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng phân tích, lồng ghép giới. Do đó nhiều nơi triển khai thực hiện kế hoạch chưa đạt chất lượng theo yêu cầu đặt ra.

- Công tác thống kê, báo cáo số liệu ở một số sở, ban, ngành và các huyện, thị  chưa có sự phân tách về giới do đó thiếu cơ sở để đánh giá chính xác mức độ bình đẳng giới.

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động Quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ đến năm 2020, Ban vì sự tiến bộ của Phụ nữ tỉnh cũng đã đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu và giải pháp cụ thể để thực hiện là:

* Mục tiêu tổng quát:

Đến năm 2020 về cơ bản đảm bảo cơ hội tham gia và hưởng lợi một cách bình đẳng cho phụ nữ và nam giới vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó tập trung thu hẹp khoảng cách giới trong một số lĩnh vực chủ yếu và giải quyết các vấn đề giới nổi cộm trong từng thời kỳ.

* Mục tiêu cụ thể:

 Mục tiêu 1: Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị.

- Chỉ tiêu 1: Tỷ lệ phụ nữ tham gia cấp uỷ các cấp đạt từ 25% trở lên, trong đó tăng 30% cán bộ nữ tham gia vào Ban Thường vụ so với năm 2010; tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đạt từ 35% trở lên.

- Chỉ tiêu 2: 90% các sở, ban, ngành và UBND các cấp có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ.

- Chỉ tiêu 3: các cơ quan, tổ chức đảng, chính quyền, tổ chức chính trị xã hội có tỷ lệ nữ là 30% trở lên có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ.

Mục tiêu 2: Giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động. Tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ nghèo nông thôn và phụ nữ dân tộc thiểu số với các nguồn lực kinh tế và thị trường lao động.

- Chỉ tiêu 1:  Đảm bảo cân bằng nam – nữ trong tổng số người được tạo việc làm mới hàng năm.

- Chỉ tiêu 2: Đảm bảo 50% lực lượng lao động nữ nông thôn dưới 45 tuổi được đào tạo nghề và chuyên môn, kỹ thuật; tăng tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số được hỗ trợ đào tạo nghề theo chính sách của nhà nước.

- Chỉ tiêu 3: Tăng tỷ lệ phụ nữ nghèo ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa thực sự là người quyết định thực hiện kế hoạch vay vốn ưu đãi từ các chương trình, chính sách việc làm và giảm nghèo.

Mục tiêu 3: Đảm bảo sự tham gia bình đẳng của phụ nữ với nam giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo,khoa học và công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ.

- Chỉ tiêu 1: Phổ cập biết chữ cho 100% nam giới và phụ nữ ở độ tuổi từ 15 đến 40 ở vùng sâu, vùng xa.

- Chỉ tiêu 2: Đưa kiến thức giới vào trong các cấp học, trước tiên tập trung đưa chuyên đề bình đẳng giới và giảng dạy trong các lớp quản lý nhà nước và trung cấp chính trị của tỉnh.

Mục tiêu 4: Bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận dịch vụ y tế:

- Chỉ tiêu 1: Tỷ suất tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản dưới 50/100.000 trẻ đẻ sống

          - Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ phụ nữ được khám thai trong thời kỳ thai sản từ 3 lần trở lên đạt 90%.

          - Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ phụ nữ mang thai trong toàn tỉnh bị nhiểm HIV/AIDS thấp hơn 0,2%.

- Chỉ tiêu 4: Giảm mạnh phá thai, đưa tỷ lệ phá thai xuống dưới 25/100 trẻ đẻ sống, tỷ lệ phá thai ở tuổi vị thành niên ít hơn 5% trong tổng số ca nạo thai.

Mục tiêu 5: Bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể thao.

- Chỉ tiêu 1: Bảo đảm việc tiếp cận và hưởng thụ bình đẳng nhu cầu thưởng thức văn hóa, tiếp cận thông tin giữa nam và nữ.

- Chỉ tiêu 2: Giảm 80% các sản phẩm truyền thông mang tính định kiến giới so với năm 2010 và tăng thời lượng các sản phẩm truyền thông cổ vũ cho quan niệm bình đẳng giới.

Mục tiêu 6: Bảo đảm bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ trong đời sống gia đình, từng bước xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới.

- Chỉ tiêu 1: Thay đổi cơ bản tâm lý sinh con trai của người dân, mức độ chênh lệch giới tính khi sinh không vượt qua 110/100.

- Chỉ tiêu 2: Tăng 50% tỷ lệ phụ nữ tham gia các quyết định quan trọng trong gia đình.

- Chỉ tiêu 3: Giảm 60% tỷ lệ nữ bị bạo lực gia đình đối với một số hành vi bạo lực gia đình cơ ban như đánh, mắng, chửi và ép buột quan hệ tình dục.

- Chỉ tiêu 4: Giảm 50% tội buôn bán phụ nữ và trẻ em; 60% phụ nữ và trẻ em gái bị buôn bán đã phát hiện được chữa trị và dạy nghề.

Mục tiêu 7: Nâng cao năng lực quản lý về bình đẳng giới.

- Chỉ tiêu 1: Các văn ban quy phạm pháp luật ban hành mới thực hiện đúng quy định lồng ghép vấn đề về bình đẳng giới, trong đó có việc phân tích tác động của các văn bản này đối với phụ nữ và nam giới.

- Chỉ tiêu 2: Cấp tỉnh và cấp huyện phải có đủ  biên chế cho công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới. 

- Chỉ tiêu 3: 100% cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ ở các cấp, các sở, ngành được đào tạo về nghiệp vụ.

* Các giải pháp chủ yếu:

1.  Rà soát các văn bản pháp luật về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ, thực hiện lồng ghép trong các chính sách, pháp luật, chương trình, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà.

- Rà soát, đánh giá, kiến nghị sửa đổi bổ sung các chính sách về quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm đối với cán bộ nữ; chính sách đối với lao động nữ làm việc trong các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp và chính sách về học nghề, giải quyết việc làm, giảm nghèo đối với lao động nữ.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ ở các sở, ngành và địa phương; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.

- Tập trung xây dựng và thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trên các lĩnh vực còn tồn tại bất bình đẳng giới sâu sắc đối với phụ nữ.

- Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào quá trình hoạch định, thực thị giám sát, đánh giá các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế  - xã hội của các ngành, các cấp.

2. Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ trong đội ngũ cán bộ, công chức và nhân dân.

- Xây dựng và thực hiện chương trình truyền thông về bình đẳng giới có nội dung và hình thức tuyên truyền phù hợp với từng nhóm đối tượng trong xã hội (phụ nữ, nam giới, lãnh đạo, công chức, viên chức, đội ngũ giáo viên và người dân..) và từng khu vực nông thôn, thành thị; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về Luật bình đẳng giới.

- Xây dựng chuyên trang, chuyên mục bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ nữ trên Đài phát thanh truyền hình, báo Bình phước và phát hành trang thông tin nội bộ về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ.

- Nâng cao nhận thức về giới, bình đẳng giới cho cán bộ, phóng viên báo chí để góp phần giám sát việc thực hiện Luật bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ và tuyên truyền những kiến thức, kinh nghiệm điển hình tiên tiến về bình đẳng giới, đảm bảo các sản phẩm truyền thông không bị định kiến giới.

- Xây dựng và phát triển đội ngũ tuyên truyền viên và báo cáo viên về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ tại cộng đồng.

- Học tập kinh nghiệm các địa phương trong và ngoài nước làm tốt công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ.

3. Phát triển các hệ thống dịch vụ có chất lượng nhằm hỗ  trợ phụ nữ và nam giới được tham gia bình đẳng trong các lĩnh vực.

- Mở rộng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của các thành viên trong gia đình, tăng cường các dịch vụ chăm sóc sức khỏe trước, trong và sau khi sinh của phụ nữ.

- Tăng cường hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho mọi người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.

- Phát triển mạnh dịch vụ khoa học, công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hoá, thông tin, thể thao, dịch vụ việc làm và an sinh xã hội.

- Tăng cường xã hội hóa và phối hợp liên ngành trong việc tổ chức các hoạt động nhằm mục tiêu bình đẳng giới.

4. Tăng cường công tác nghiên cứu liên quan tới bình đẳng giới nhằm cung cấp những cơ sở khoa học vững chắc cho việc thực thi chính sách, pháp luật tại địa phương:

- Hàng năm cần tổ chức các nghiên cứu về bình đẳng giới trên các lĩnh vực, trước tiên tập trung nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới trong đời sống gia đình, trong vùng đồng bào dân tộc và vấn đề bình đẳng giới dưới gốc độ văn hoá.

- Điều tra, xây dựng cơ sở dữ liệu về bình đẳng giới để phục vụ công tác nghiên cứu và hoạch định và thực thi chính sách tại địa phương.

5. Có cơ chế huy động nguồn lực và đầu tư ngân sách cho hoạt động bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ.

Sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính phục vụ cho công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ.

Tập trung nguồn lực thực hiện bình đẳng giới trong các lĩnh vực có nguy cơ bất bình  đẳng cao.

Hội nghị cũng đã biểu dương khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác vì sự tiến bộ của Phụ nữ; trong đó: tặng Bằng khen của UBND tỉnh cho 18 tập thể, 22 cá nhân và tặng Giấy khen của Ban vì sự tiến bộ của Phụ nữ tỉnh cho 19 tập thể, 31 cá nhân./.

 

 

 

 

[Trở về]
Tin nổi bật
Văn bản mới
 Quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai

Giao chỉ tiêu bệnh nhân được điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2014 và 2015.Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế

 Hướng dẫn thực hiện Quyết định 75/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ, chính sách và công tác bảo đảm đối với tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ.

Quyết định số 34/QĐ-TTg ngày 30/5/2014 V/v Quy định Tiêu chuẩn xã, phường, thị trấn phù hợp với trẻ em 

Thông tư số 15/2014/TT-BTP ngày 20/5/2014 V/v Hướng dẫn tìm gia đình thay thế ở nước ngoài cho trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo, trẻ em từ 5 tuổi trở lên, hai trẻ em trở lên là anh chị em ruột cần tìm gia đình thay thế 

Thông tư số 03/2014/TT-BLĐTBXH Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 102/2013/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam 

Nghị định số 03/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ Luật lao động về việc làm 

Thông tư hướng dẫn chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, độc hại

Thông tư số 4/2013/TT-BLĐTBXH ngày 1/3/2013 V/v sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH ngày 25/10/2010 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội vầ bảo hiểm thất nghiệp

Thông tư số 01/2013/TT-BLĐTBXH ngày 30/1/2013 V/v quy định mức điều chỉnh tiền lương, tiền công và thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội

Báo cáo Tổng hợp
Tuyển dụng lao động
Liên kết Website
Unicode | Góp ý
Coppyright © 2009 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Phước
Địa chỉ: 829 Quốc lộ 14 - P. Tân Bình - TX. Đồng Xoài - tỉnh Bình Phước Điện thoại: 06513.879.254 Fax: 06513.870.136
Trưởng ban biên tập: Võ Văn Mãng – Phó Giám Đốc Sở
Quản trị Website: Trần Duy Ba
® Ghi rõ nguồn "www.sldtbxh.binhphuoc.gov.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này